LASER TRONG ĐIỀU TRỊ MẠCH MÁU VÙNG MẶT

ĐIỀU TRỊ MẠCH MÁU MẶT BẰNG LASER 

Tĩnh mạch mạng nhện vùng mặt hoặc chứng dãn mao mạch là một trong những tình trạng da mặt phổ biến nhất mà bệnh nhân tìm cách điều trị. Những mạch máu dãn không đẹp này được nhìn thấy hầu như chỉ ở những bệnh nhân da trắng và thường có liên quan đến tiếp xúc ánh nắng mạn tính, chứng đỏ mặt (rosacea), lạm dụng kem cortisone và các bệnh tự miễn dịch nhất định, và đôi khi có thể là di truyền. Trong nhiều trường hợp, không thể xác định được nguyên nhân chính xác. Trái với quan niệm phổ biến, chứng dãn mao mạch hoàn toàn không liên quan đến chứng nghiện rượu.

Không giống như các tĩnh mạch ở chân thường bị mắc phải và trở nên trầm trọng hơn do trọng lực, chứng dãn mao mạch ở mặt thường là do các mao mạch hoặc các động mạch nhỏ (tiểu động mạch) ở lớp nhú bì dễ dàng được nhìn thấy dưới da dù thực tế chúng không phải là “tĩnh mạch”. Chứng dãn mao mạch được phân loại dựa trên hình dáng xuất hiện của chúng như dạng đường thẳng, dạng phân nhánh, dạng mạng nhện hay dạng có đốm. Loại dãn mao mạch phổ biến là dạng đường thẳng và dạng phân nhánh thường xảy ra nhất trên các vùng da xung quanh mũi và dạng mạng nhện thường xảy ra ở vùng má.
mm1

Từ trái sang phải: Chứng dãn mao mạch dạng đường thẳng và dạng mạng nhện

Khái quát: Trước khi công nghệ laser được sử dụng rộng rãi trong y học thì chứng dãn mao mạch thường được điều trị bằng phương pháp đốt điện (“kim điện”). Không chỉ khiến cho bệnh nhân bị đau, quá trình đốt bằng điện cực này còn có thể để lại các vết sẹo hay gây biến đổi màu sắc trên da, đặc biệt đối với những vùng da mặt bị nhờn hay da mỏng là những vùng da thường xảy ra chứng dãn mao mạch. Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, công nghệ laser CO2 sóng liên tục (CW) đã được sử dụng mặc dù kết quả mà nó mang lại không tốt hơn phương pháp đốt điện là bao. Ánh sáng màu xanh lục của Laser Argon có hiệu quả đối với các mạch máu nông, tuy nhiên sự xâm nhập nông và hiệu ứng nhiệt không đặc hiêu đã khiến cho liệu pháp điều trị bằng Laser Argon không mấy hiệu quả trên các bệnh nhân có mạch máu sâu bên trong hoặc những bệnh nhân có làn da sậm màu. Vào giữa những năm 1980, sự phát triển của phương pháp điều trị bằng Laser xung màu phát ra các xung micro giây của ánh sáng vàng mặc dù mang lại hiệu quả cao nhưng độ rộng xung ngắn (dưới 1 mili giây) có thể phá vỡ các mao mạch bị dãn, gây ra triệu chứng ban xuất huyết hoặc các vết màu đen và màu xanh mà phải tới 2 tuần sau chúng mới có thể biến mất. Trong thập niên 90, liệu pháp sử dụng Laser hơi đồng, Laser đồng bromide và Laser Krypton cũng được sử dụng để điều trị chứng dãn mao mạch ở mặt. Sau này, laser Q-Switched Nd: YAG 532nm- loại laser thường được sử dụng trong việc xóa một số hình xăm cũng được ghi nhận là có hiệu quả trong việc điều trị chứng dãn mao mạch nhưng thời gian xung ngắn của loại laser này vẫn có thể làm vỡ mao mạch gây ra hiện tượng ban xuất huyết.
m2

Hình ảnh giãn mao mạch dạng phân nhánh trước khi được điều trị (trái) và sau 3 tháng điều trị bằng liệu pháp Laser Argon

ĐIỀU TRỊ MẠCH MÁU MẶT BẰNG LASER 

Điều trị chứng dãn mao mạch trên mặt: Giống như hầu hết các liệu pháp sử dụng tia laser khác, laser KTP sử dụng nguyên lý quang nhiệt chọn lọc để tập trung vào các mạch máu bất thường chứ không trải rộng trên các mô xung quanh. Laser KTP phát ra ánh sáng màu xanh lục sáng rực có bước sóng 532nm, gần với đỉnh hấp thu chính của hemoglobin. Máu hấp thụ năng lượng laser nhiều hơn các mô xung quanh và bằng cách chọn độ rộng xung ít hơn thời gian bán hủy nhiệt của mạch máu, mạch máu có thể được làm đông lại một cách có chọn lọc mà không gây ra hiện tượng ban xuất huyết hoặc gây bỏng da.

Điều trị dãn mao mạch ở mặt không cần gây tê – các xung laser dường như gây ra rất ít tiếng lách tách và chúng có thể dễ dàng được dung nạp trên hầu hết các bệnh nhân. Trong hầu hết các trường hợp, ta có thể sử dụng gel làm mát dạng trong suốt hoặc làm mát bằng không khí hoặc kết hợp cả hai nhằm mang lại sự thỏa mái và giảm sự phồng rộp trên bề mặt da. Sau khi thiết lập laser thích hợp, các xung laser riêng biệt có thể “tìm kiếm” từng mạch máu. Nếu các mạch máu quá nhỏ hoặc quá nhiều gây khó khăn cho việc tìm kiếm thì có thể sử dụng một máy quét để điều trị toàn bộ khu vực chứa các mạch máu đó. Hiện nay, liệu pháp laser KTP với “large spot” lên đến 10mm được sử dụng cho phép xử lý nhanh chóng các bề mặt da rộng lớn.

Trong một số trường hợp, đặc biệt là chứng dãn mao mạch trên diện rộng ở khu vực quanh mũi, có thể tình hình sẽ được cải thiện trong quá trình điều trị thay vì giải quyết hoàn toàn các mao mạch đó. Đôi khi, tình trạng dãn mao mạch có thể trở nên tồi tệ hơn ở lần đầu điều trị so với khi chưa được điều trị, nhưng sau đó các mao mạch này có thể biến mất sau một vài tuần hoặc một vài tháng. Việc dừng điều trị sẽ an toàn hơn nhiều so với việc liều lĩnh điều trị dứt điểm để rồi gây ra sẹo, do vậy nên tái khám một tháng sau lần điều trị đầu tiên để mang lại kết quả tốt nhất.

Vì melanin trong da cũng hấp thụ ánh sáng màu xanh lá cây với bước sóng 532nm nên da sẫm màu hơn có thể hấp thụ một số năng lượng laser và trong một số trường hợp, nó có thể gây ra hiện tượng phồng rộp da nhẹ và đóng vẩy (“vết gà bới”), những vết này thường sẽ biến mất sau vài ngày. Việc điều trị bằng tia laser có thể khiến cho da tạm thời bị đỏ hoặc có màu sáng hơn, đặc biệt hiện tượng này càng dễ nhận thấy trên các bệnh nhân có sắc da tối màu. Liệu trình điều trị bằng laser cũng hiếm khi để lại sẹo nếu sử dụng laser chuyên dụng cho vùng da mặt.
m3
m4

Chứng dãn mao mạch ở mũi trước khi được điều trị (trái), và một tháng sau khi được điều trị bằng laser KTP

m5

Chứng dãn mao mạch dạng phân nhánh ở mũi trước khi được điều trị (trái), sau khi được điều trị (phải)
m6

Chứng dãn mao mạch dạng phân nhánh ở má, trước khi được điều trị (trái), và sau khi được điều trị (phải)- các mạch máu này có kích thước lớn và trải trên diện rộng nên đòi hỏi nhiều đợt điều trị.

m7

Chứng dãn mao mạch dạng mờ ở mũi trước khi được điều trị (trái), sau khi được điều trị bằng liệu pháp laser 2 KTP kết hợp với scanner (phải)

m8

Chứng dãn mao mạch dạng phân nhánh trên má và dạng mờ trước khi điều trị (trái), và sau khi được điều trị 2 đợt bằng liệu pháp laser KTP, đợt trị liệu đầu tiên là tiến hành điều trị các mạch máu trên diện rộng, đợt trị liệu thứ hai bằng cách sử dụng thiết bị quét trên các mạch máu nhỏ và mờ (phải).

m9

ĐIỀU TRỊ MẠCH MÁU MẶT BẰNG LASER 

Các thiết bị khác được sử dụng để điều trị các tổn thương mạch máu bao gồm: blue laser (diode 450nm), hơi đồng (511 & 585nm), KTP xung dài (532nm), yellow diode (585nm), dye laser (585-595nm), Laser Diode (800-810nm), Laser Nd: YAG xung dài (1064nm) và Thiết bị IPL. Mỗi thiết bị này phát ra các photon tương ứng với một “đỉnh” hấp thu hemoglobin.

U mạch máu và các dị dạng mạch máu: U mạch máu được sử dụng như một thuật ngữ chung để mô tả sự phát triển bất thường hoặc sự gia tăng các mạch máu. Nói đúng hơn, thuật ngữ hemangiomas (u mạch máu) ám chỉ đến các thương tổn không có khi mới được sinh ra, chúng xuất hiện và sinh sôi nảy nở trong một thời gian nào đó sau khi sinh, và thường biến mất hoặc có thể trở nên trầm trọng hơn.
Các bất thường mạch máu này tại thời điểm được sinh ra có thể vẫn không thay đổi hoặc phát triển chậm lại sau một thời gian được gọi là Dị dạng mạch máu.

U mạch máu xảy ra ở khoảng 2-7% trẻ sơ sinh, thường xảy ra ở bé gái và ở các trường hợp đa sinh. Chúng là các vết đốm phẳng, có màu trắng, được bao quanh bằng các mạch máu dãn nở và thường phát triển mạnh ở năm đầu đời của trẻ. Hầu hết các u mạch máu này đều có chiều hướng phát triển chậm lại khi trẻ được 4 tuổi, thậm chí chúng có thể chỉ còn lại là một vết đốm nhỏ có màu sắc hơi bất thường một chút, nhưng thường thì các vết đốm này sẽ ít khi biến mất hoàn toàn. Trong một số ít trường hợp, những tổn thương này có thể phát triển mạnh, gây rát da, chảy máu và thậm chí ảnh hưởng đến các cấu trúc quan trọng của cơ thể. Trong một số trường hợp, chúng có thể có liên quan đến các tổn thương tương tự ở những nơi khác trong cơ thể, đặc biệt là thanh quản và khí quản. Hầu hết các tổn thương này đều không cần đến các liệu pháp điều trị  nhưng nếu tổn thương nghiêm trọng hơn thì có thể được điều trị bằng cortisone theo đường uống hoặc tiêm, hoặc thậm chí là bằng Interferon. Việc điều trị các tổn thương này bằng laser vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Một số cơ quan có thẩm quyền khuyến cáo nên điều trị sớm các tổn thương này khi trẻ vẫn còn bé bằng thiết bị Laser xung màu, laser KTP. Điều này giúp hạn chế sự tăng trưởng và hồi phục sớm những tổn thương không mong muốn này. Các liệu trình khác có thể được sử dụng cho việc điều trị các tổn thương mạch máu khi chúng vẫn không thể tự hồi phục sau độ tuổi 3 hoặc 4. Cả hai trường hợp này đều cần điều trị nhiều đợt. (Ảnh của James Labagnara, MD FACS)

U máu hình quả anh đào (u mạch, u mạch sừng hóa (u mạch dày sừng) do tuổi già) là chứng phổ biến nhất trong số các bệnh về dị tật mạch máu.
Những nốt màu đỏ tím này hiếm khi có kích thước lớn hơn 1/4 inch và hầu hết chúng thường xuất hiện ở trên cơ thể người trên 30 tuổi. Vẫn chưa thể lý giải được nguyên nhân gây ra các nốt này nhưng chúng có thể được điều trị bằng nhiều phương pháp khác nhau bao gồm phương pháp sử dụng laser CO2, blue laser, Argon hay KTP. Đôi khi chúng có biểu hiện lâm sàng giống như khối u melanin – khối u mạch máu hình quả anh đào màu đen có kích thước lớn như hình bên phải.

m10

Vết bớt rượu vang đỏ- u máu phẳng (Port wine stains-PWS) là một loại dị dạng mạch máu xuất hiện trên khoảng 1% số trẻ sơ sinh, chúng thường xuất hiện nhiều nhất ở vùng da mặt và cổ, có màu hồng hoặc đỏ, ở những nơi có sự phân bố của dây thần kinh bên dưới. Cụm mạch máu nhỏ thường xuất hiện ở lớp nhú bì và theo thời gian, các mạch máu dần dãn nở hơn và cuối cùng chúng sẽ tạo thành những nốt hay cục u nhỏ. Việc điều trị sẽ đạt kết quả tối ưu bằng liệu pháp sử dụng laser xung màu (PDL) khi các vết bớt này còn đang ở giai đoạn đầu. Việc điều trị sẽ trở nên khó khăn hơn khi các vết bớt trở nên dày hơn và có màu sắc đậm hơn. Các đợt điều trị được thực hiện cách nhau khoảng 2 tháng cùng với việc sử dụng gây tê cục bộ, thường là sử dụng trên trẻ nhỏ vẫn còn trong vòng tay bế ẵm của cha mẹ. Đối với các tổn thương trầm trọng hơn thì có thể được điều trị bằng cách chiếu quang bằng Blue laser, Laser Argon, KTP, Diode, hay YAG. Việc điều trị nhiều đợt là cần thiết trong cả hai trường hợp trên, nhưng trong mọi trường hợp, việc loại bỏ hoàn toàn sự phát triển của các vết bớt đó là điều không thể.

m11

Vết bớt màu đỏ rượu vang, trước khi được điều trị, (giữa), và sau 3 lần điều trị bằng Laser Argon (phải)-Tuy nhiên, vẫn đề lại di chứng sơ hóa xung quanh tổn thương còn sót lại.

U tĩnh mạch: U tĩnh mạch thường xuất hiện nhiều nhất ở những khu vực tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ở những người cao tuổi.
m12
Chứng dãn mao mạch phổ rộng thường xuất hiện nhiều nhất ở những phụ nữ da trắng trong độ tuổi từ 40 đến 50. Giống như cái tên của nó, chứng phân bố phổ rộng các mạch máu nhỏ dãn nở ở chân và đùi, hiếm khi xuất hiện ở phần thân trên và cánh tay.
Giống như hội chứng dãn mao mạch một bên, sự dãn nở của các vết này có thể kèm theo sự phân bố các dây thần kinh và hội chứng này có thể là do di truyền. Hội chứng này thường không gây ra các bệnh tiềm ẩn khác mặc dù chứng dãn mao mạch lan rộng có thể đi kèm với giai đoạn thai nghén, sử dụng steroid kéo dài và gây ra một số bệnh về gan.

m13

Trên đây là vết da có màu trắng dưới một áp lực nhẹ từ dụng cụ trượt bằng thủy tinh.

Hội chứng dãn mao mạch một bên có thể là bị bẩm sinh hay mắc phải trong quá trình lớn lên; hội chứng này mắc phải do sự gia tăng dãn mao mạch ở vùng mặt và cổ hoặc có thể là do hàm lượng estrogen trong máu từ việc sử dụng thuốc tránh thai hay mang thai gây ra. Thông thường chứng dãn mao mạch này xuất hiện trên mặt và cổ hoặc theo sự phân bố của một dây thần kinh nào đó nằm bên dưới. Những tổn thương này có thể được điều trị bằng Laser xung màu hoặc Laser KTP.

m14