CHỈ ĐỊNH CỦA LASER TRONG Y HỌC
Mặc dù mối quan hệ của laser với y học còn mới mẻ và một nhu cầu “công nghệ cao” không còn bàn cãi gì nữa, laser y học đơn giản chỉ là một công cụ được sử dụng để giải quyết các vấn đề hay hoàn thành một nhiệm vụ. Hiểu thấu sự tương tác của sự tương tác giữa năng lượng laser và mô sống là điều cần thiết để chọn lựa thông số điều trị tốt nhất để hoàn tất nhiệm vụ điều trị với mức độ an toàn và thoải mái tối đa.
Trẻ hóa da-hệ thống bóc tách thật sự: hệ thống máy laser bóc tách thật sự bóc tách lớp biểu mô và lớp bì và gây tổn thương nhiệt cho da trong khả năng có thể kiểm soát.
- CO2 lasers dạng xung và scanner xuất hiện đầu 1990 bắt đầu cuộc cách mạng trẻ hóa da bằng laser, và cho đến nay CO2 laser tái tạo bề mặt (resurfacing) vẫn là tiêu chuẩn vàng so với các kỹ thuật trẻ hóa da khác. Tia hồng ngoại có bước sóng 10,600 nm được hấp thu bởi nước, và được điều khiển bởi hệ thống máy tính qua đầu scanner cho phép bay hơi và bóc tách mô mềm chính xác. Về vấn đề tái tạo bề mặt, lớp biểu bì và lớp bì nông được bóc tách, bao gồm tái tạo collagen và tăng sinh lớp biểu bì từ các tế bào còn sót lại ở các nang lông và tuyến mồ hôi.
Vì đặc tính đơn giản và hằng định của nó, CO2 Laser tái tạo bề mặt hầu như hoàn toàn thay thế các phương pháp tái tạo bề mặt “truyền thống” như siêu mài mòn và lột sâu bằng hóa chất. Tuy nhiên, với tất cả các kỹ thuật tái tạo bề mặt sâu này, toàn bộ lớp biểu mô bị bóc tách và chức năng bảo vệ của da bị tổn thương, thời gian lành thương kéo dài và lâu, nguy cơ nhiễm trùng và gây sẹo.
- Er: YAG hay “erbium” laser có bước sóng 2940 nm được giới thiệu như là một kỹ thuật tái tạo bề mặt khác vì nhanh lành thương và ít nguy cơ nhiễm trùng và gây sẹo. 2940 nm là bước sóng được hấp thu mạnh nhất bởi nước cùng với độ rộng xung ngắn của erbium lasers nguyên thủy ít gây tác dụng nhiệt lên da, bóc tách lớp biểu mô nhưng có ít tác dụng nhiệt lên lớp bì và đáp ứng lâm sàng bị giới hạn. Các erbium lasers mới hơn với độ rộng xung dài hơn thì có hiệu quả hơn do gia tăng tác động nhiệt. Tuy nhiên, so với tái tạo bề mặt bằng CO2 laser, thì tái tạo bề mặt bằng Erbium laser cho thời gian lành thương nhanh hơn với ít tác dụng phụ nhưng hiệu quả lâm sàng thì thấp hơn nhiều.
Trẻ hóa da- hệ thống bóc tách tối thiểu: bóc tách tối thiểu lớp biểu mô chết, giữ lại lớp biểu mô mới và gây một ít tác dụng nhiệt lên lớp bì nông.
- Tái tạo da bằng Plasma sử dụng plasma Ni tơ cung cấp năng lượng nhiệt không phải quang học lên dan. Một luồng khí Ni tơ bị kích hoạt bởi năng lượng RF (radio frequency) dưới dạng xung, tạo ra tia plasma ni tơ bền vững. Cung cấp năng lượng dưới dạng từng xung qua một đầu điều trị, nhiệt phát ra từ plasma sấy khô lớp biểu mô và lớp bì nông, và được thay thế bởi quá trình lành thương và tái tạo lớp thượng bì, xảy ra dưới vùng bị sấy khô được hoạt động như là 1 lớp áo sinh học. Sự lành thương nhanh với rất ít nguy cơ nhiễm trùng và tạo sẹo. Tác dụng nhiệt lên lớp bì làm tăng sinh collagen làm săn chắc da nhẹ.
- YSSG Laser tái tạo bề mặt khai thác sự hấp thu bước sóng 2790 nm bởi nước, ít hấp thu bởi nước hơn là Er: YAG, YSSG phát ra được dẫn truyền bởi thiết bị scan, làm nóng và sấy khô lớp thượng bì và lớp bì nông và để lại lớp bị sấy khô như cũ và tái tạo lớp thượng bì ngay bên dưới. Đốt nóng lớp bì nông làm tăng sinh collagen nhẹ sau vài tuần sau đó.
Trẻ hóa da-hệ thống vi phần (Fractional laser): là hệ thống cung cấp các điểm tổn thương nhiệt nhỏ li ti và xung quanh là mô không bị tổn thương giúp mau lành thương và giảm thiểu tác dụng phụ, có 2 loại:
Fractional laser-non-ablative (không bóc tách)
- Nd YAG: 1440nm, 1320nm, 1540nm hay Er: Fiber laser 1550 nm hấp thu mạnh bởi nước được dẫn qua 1 đầu điều trị đặc biệt được sử dụng dưới dạng “đóng dấu-stamp” hay dạng “quét-scanning” để tạo ra các cột nhỏ tổn thương nhiệt li ti làm quang đông mô. Vì mặt ngoài của lớp sừng ở thượng bì thì khô, lớp bảo vệ của thượng bì không bị tổn thương vì thế giảm thiểu tối đa thời gian nghỉ bệnh và nhanh chóng lành thương. Gần đây, cũng có thêm 1 số laser kết hợp cả hai bước sóng 1440 và 1320nm phát ra cùng lúc (multiplex) giúp điều trị tại nhiều lớp khác nhau của da cho hiệu quả lâm sàng cao hơn.
Tùy vào mật độ và đường kính của cột tổn thương vi nhiệt (giống như điểm ảnh), có thể lên tới 25% diện tích da đươc điều trị chỉ trong 1 lần điều trị vì vậy có thể cần nhiều lần điều trị để đạt được kết quả mong muốn.
Fractional laser-ablative (bóc tách)
- Er:YAG fractional: sử dụng một đầu quét không tiếp xúc da hoặc 1 đầu điều trị bao gồm nhiều thấu kính hội tụ nhỏ bên trong, mặc dù không thật sự là hệ thống “fractional” vì mô giữa các cột tổn thương nhiệt cũng bị đốt nóng.
- Fractional CO2 Laser cung cấp giải pháp ưu việt cho việc bóc tách da an toàn và thời gian lành thương nhanh hơn, ít tác dụng phụ hơn so với tái tạo bề mặt da bằng laser CO2 bóc tách truyền thống. Máy được sử ở dạng quét tiếp và không tiếp xúc da.
CHỈ ĐỊNH CỦA LASER TRONG Y HỌC
Trẻ hóa da- không xâm lấn (Non-invasive): làm trẻ hóa da mà không quang đông hay bóc tách mô và không có hoặc rất ít tác dụng phụ. Cần phải điều trị nhiều lần và hiệu quả lâm sàng thì rất hạn chế.
- Ánh sáng nhìn thấy được (Visible light systems) thường sử dụng ánh sáng xanh lá (532 nm) hay vàng (585-595 nm) làm tổn thương nhẹ thành mạch máu và giải phóng cytokines và các yếu tố kích thích collagen tăng sinh. Những bước sóng này cũng được hấp thu mạnh bởi oxyhemoglobin và melanin, hữu dụng trong việc điều trị các rối loại sắc tố, dãn mạch…nhưng thường gây ra xuất huyết hay tạo vảy bề mặt. Sử dụng những bước sóng này bị hạn chế ở loại da sậm vì bị hấp thu bởi melanin ở thượng bì.
- Tia hồng ngoại-Near infrared (NIR) có bước sóng 1320 nm và 1450 nm hấp thu mạnh bởi nước và không bị hấp thu bởi hemoglobin hay melanin, đốt nóng collagen ở lớp bì nông làm tăng sinh và nhanh lành thương. Những máy này hay sử dụng làm lạnh bằng cryogen để tránh tổn thương cho thượng bì và cảm giác thoải mái cho bệnh nhân.
- IPL-Intense Pulsed Light phát ra ánh sáng có bước sóng phổ rộng 530-1200 nm, tác động vào nhiều mô đích như hemoglobin, melanin và nước, nhưng ít chọn lọc hơn là ánh sáng laser đơn sắc. Nói chung, các máy IPL được sử dụng để điều trị rối loạn sắc tố, mạch máu nhỏ, nông với hiệu quả làm tăng sinh collagen là phụ.
- Ánh sáng phổ hẹp-LED sử dụng cơ chế quang kích thích sinh học làm gia tăng hoạt động của tế bào và kích thích tái tạo collagen và lớp thượng bì. Cũng giống như các máy không xâm lấn khác, cần phải điều trị nhiều lần và hiệu quả thì không rõ ràng.

Trẻ hóa da bằng Radiofreqency: Radiofrequency-dòng điện từ trường được sử dụng để đốt nóng lớp bì và collagen dưới da làm săn chắc da.
- Radiofrequency (đơn cực, lưỡng cực, ba cực…) sử dụng cơ thể như là một điện trở. Đốt nóng có kiểm soát sợi collagen ở lớp bì và vách tế bào sợi ở lớp dưới da gây ra tổn thương nhiệt làm tăng sinh sau đó, hiệu quả là da săn chắc sau vài tuần đến vài tháng. Đau khi điều trị và hiệu quả thì thay đổi không cố định.
- Hợp lực quang điện (ELOS) sử dụng radiofrequency lưỡng cực kết hợp với laser hay IPL để làm nóng da trước. Cần phải điều trị nhiều lần mới cho kết quả tốt, đau khi điều trị và hiệu quả thì vừa phải và không hằng định.
Trẻ hóa da-sử dụng ánh sáng hồng ngoại dạng xung-Infrared Intense Pulsed Light sử dụng bóng đèn hồng ngoại- NIR cung cấp năng lượng cho da qua 1 kính saphire làm lạnh để bảo vệ thượng bì khỏi tổn thương. Cần nhiều lần điều trị, đau và hiệu quả thì vừa phải.
CHỈ ĐỊNH CỦA LASER TRONG Y HỌC
Điều trị các sang thương mạch máu: Laser và ánh sáng được sử dụng để điều trị các sang thương mạch máu tùy thuộc vào mức độ hấp thu của hemoglobin. Cân nhắc khi điều trị các sang thương mạch máu tùy theo kích thước, độ sâu và vị trí của sang thương mô đích và hấp thu cạnh tranh bởi melanin thượng bì.

Các chỉ định mạch máu bao gồm:
- Giãn mạch ở mặt
- Trứng cá đỏ
- Mạch máu bất thường và u máu (hemangioma…)
- Mạch máu chân
Nguyên lý chung: mạch máu đỏ hơn, nông hơn và nhỏ hơn, điều trị hiệu quả với bước sóng và độ rộng xung ngắn hơn. Ngược lại, mạch máu lớn hơn sâu hơn, màu xanh thì điều trị hiệu quả với bước sóng và độ rộng xung dài hơn.
- KTP Lasers: The Potassium Titanyl Phosphate (hay còn gọi là Frequency doubled Nd: YAG laser) ánh sáng màu xanh lá có bước sóng 532 nm, hấp thu đỉnh của hemoglobin, ở độ rộng xung là mili giây, phù hợp cho điều trị mạch máu nhỏ ở mặt (facial telangiectasia) và trứng cá đỏ (rosacea) mà không gây xuất huyết hay bầm tím thường thấy khi điều trị với Pulsed Dye Lasers. Hấp thu mạnh bởi melanin cho nên rất hữu dụng trong điều trị các sang thương sắc tố nhưng có thể bị hạn chế ở loại da sậm.
- Laser hơi đồng-Copper Vapor Laser: ánh sáng có màu vàng xanh, phát ra ở chế độ rộng xung là mili giây, được sử dụng để điều trị giãn mạch hay các sang thương sắc tố nhỏ; tuy nhiên thời gian khởi động máy lâu và chi phí bảo trì bảo dưỡng cao làm cho máy này ít được sử dụng phổ biến trong điều trị mạch máu.
- Pulsed Dye Laser (PDL): là loại laser phổ biến nhất trong điều trị mạch máur, PDL sử dụng chất màu hữu cơ hòa tan trong dung môi lỏng như là một gain medium tạo ra độ rộng xung mili giây với nhiều xung nhỏ bên trong (sub-millisecond pulses) bước sóng 585-595 nm và ánh sáng có màu vàng. Hấp thu mạnh bởi hemoglobin ở độ rộng xung ngắn làm vỡ thành mạch máu nhỏ và gây xuất huyết, có thể gây bầm tím. Hạn chế này được cải tiến bằng cách sử dụng kỹ thuật tạo xung trong xung (pulse “trains”) để làm giả 1 xung dài hơn.
Cũng như KTP laser, điều trị mạch máu là chỉ định chính, ngoài ra còn sử dụng để điều trị trẻ hóa da ở mức năng lượng thấp và điều trị các sang thương sắc tố nông ở mức năng lượng cao. Mặc dù PDL rất hiệu quả trong điều trị các mạch máu nông, giãn mạch và đỏ da, nhưng nó cần chế độ bảo trì, bảo dưỡng cao và gây xuất huyết.
- Alexandrite Laser: sử dụng rộng rãi trong triệt lông, Alexandrite laser có bước sóng 755 nm, ánh sáng đỏ sậm, sâu, ít hấp thu bởi hemoglobin. Melanin hấp thu ít (so với KTP và PDL) cho phép điều trị mạch máu sâu hơn và mạch máu chân.
- Diode Laser: có bước sóng 800-810 nm được hấp thu bởi oxyhemoglobin ở mức năng lượng cao và medhemoglobin ở mức năng lượng thấp. Ít hấp thu bởi melanin và xuyên sâu nhưng có thể sử dụng cho da sậm. 940 nm diode laser được hấp thu bởi hemoglobin và được sử dụng trong nha khoa.
- Nd: YAG Laser: bước sóng 1064 nm ít bị hấp thu bởi các chromophores của mô, nhưng có thể điều trị mạch máu xanh và đỏ ở mức năng lượng cao. Xuyên sâu và hấp thu cao bởi deoxyhemoglobin và methemoglobins cho nên Nd: YAG đặc biệt được sử dụng trong điều trị mạch máu chân ở tất cả các loại da.
- Lasers mạch máu bước sóng kép sử dụng cả 2 bước sóng 585-595 nm và 1064 nm tác động vào các sang thương mạch máu khác nhau về độ sâu và đường kính mạch máu. Bước sóng 585-595 nm hấp thu mạnh bởi oxyhemoglobin và chuyển oxyhemoglobin ở mạch máu sau hơn, to hơn thành methemoglobin, và nó hấp thu bước sóng 1064 nm trong vài mili giây sau đó. Sự kết hợp này cho phép sử dụng năng lượng thấp của cả hai loại laser, và đặc biệt rất hiệu quả trong điều trị các u máu phẳng cũ (mature port wine stains) và các bất thường của mạch máu.
- IPL: ánh sáng phổ rộng của IPL tác động đến nhiều chromophores, trong điều trị mạch máu, IPL rất hiệu quả đối với các mạch máu mặt nhỏ và xung huyết ở mặt (đỏ da). Rất nhiều loại IPL được thiết kế cho điều trị mạch máu kết hợp với đầu điều trị Nd: YAG trong điều trị mạch máu to hơn và mạch máu chân.
CHỈ ĐỊNH CỦA LASER TRONG Y HỌC
Triệt lông: các máy Laser và ánh sáng điều trị triệt lông tùy thuộc vào tác động có chọn lọc vào melanin nang và thân lông, trong khi đó melanin ở thượng bì bị tác động rất ít.

Khi bước sóng càng dài thì độ hấp thu của melanin ở lông và thượng bì đều giảm. Melanin thượng bì hấp thu hầu hết mọi bước sóng và gây ra kết quả không mong muốn. Bệnh nhân với da trắng và lông sậm màu thì rất an toàn cho dù điều trị với bất cứ bước sóng nào, tuy nhiên với bệnh nhân có màu da sậm và lông sáng thì khó có thể điều trị bằng laser cho triệt lông. Để bảo vệ lớp thượng bì người ta hay dùng các phương pháp làm lạnh da.
- Ruby Laser có bước sóng 694 nm được hấp thu cao nhất bởi melanin, gặp rắc rối khi điều trị cho loại da sậm màu. Nhưng rất hiệu quả cho điều trị lông mỏng, nhạt màu hay vàng. mặc dù ruby laser là laser đầu tiên được sử dụng cho điều trị triệt lông, nhưng máy to, cồng kềnh và tốc độ chậm, và giới hạn của nó ở người da sáng cũng gây ra phỏng da.
- Alexandrite Laser: là laser phổ biến nhất cho điều trị triệt lông bằng laser, Alexandrite laser có bước sóng 755 nm, là cận sau cùng của ánh sáng nhìn thấy được. tuy nhiên nó ít bị melanin hấp thu hơn một ít so với ruby laser, bươc sóng 755 nm là lựa chọn tốt nhất vì nó cân bằng giữa hiệu quả cho tất cả các loại lông và an toàn cho thượng bì ở người da sậm. Alexandrite lasers có tốc độ điều trị cao, spot size lớn giúp điều trị nhanh và thoải mái cho bệnh nhân nhờ điều trị với năng lượng thấp mà vẫn mang lại hiệu quả cao và tăng độ an toàn cho thượng bì.
- Diode Laser: có bước sóng 800-810 nm an toàn hơn đôi chút cho thượng bì so với alexandrite laser, tuy nhiên cần sử dụng mức năng lượng cao để đạt hiệu quả tại nang lông. Điều trị đau hơn những laser có bước sóng ngắn hơn.
- Nd: YAG Laser: bước sóng 1064 nm hấp thu kém bởi melanin, nhưng vì số lượng melanin nang lông nhiều hơn melanin thượng bì cho phép bước sóng này sử dụng an toàn ngay cả ở loại da đậm màu nhất, mặc dù ít hiệu quả ở lông mỏng, sáng và đỏ, Nd: YAG lasers có spot sizes lớn và tần suất lặp lại cao giúp điều trị nhanh bù lại những nhược điểm này.
- IPL: khi sử dụng IPL để triệt lông, người ta sử dụng kính lọc để hạn chế bước sóng dài hơn 640 nm, giảm thiểu sự hấp thu của các mô đích khác. Tất cả các máy IPL thường có spot sizes lớn, nhưng tần số lại thấp, và gây ra tổn thương thượng bì hơn là laser. Gần đây có những công trình nghiên cứu so sánh IPL và Alexandrite laser trong điều trị triệt lông cho thấy và Alexandrite laser hiệu quả hơn và bệnh nhân thoải mái hơn.
- ELOS (kết hợp quang-điện): máy này sử dụng RF lưỡng cực kết hợp với năng lượng quang, về lý thuyết nó ít phụ thuộc vào sự hấp thu của melanin. Một nhà sản xuất công bố hiệu quả trên lông trắng và xám (không có sắc tố).

Chỉ địng của Q-Switched Laser: tất cả các máy Q-Switched laser trong y khoa ngày nay đều sử dụng gain medium rắn và flashlamp và kích hoạt laser (pumped laser) ở dạng chủ động (active), và một số ở dạng thụ động (passive Q-Switch). Những máy laser này có độ rộng xung là Pico (ps) giây hoặc Nano giây (ns) tác động vào các mô đích có đường kính nhỏ bằng cơ chế quang cơ-đập vỡ (photomechanical, acoustic), điển hình là các melanosomes trong các sang thương sắc tố da và trong các mực xăm. Hiện nay có 3 loại Q-Switched Laser:
- Q-Switched Ruby Laser
- Q-Switched Alexandrite Laser
- Q-Switched Nd:YAG Laser


EN